
Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng,
vô hình, đứng một mình mà không thay đổi vĩnh cửu, vân hành khắp vũ trụ không
ngừng, có thể coi nó nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết tên nó
là gì, tạm đặt tên cho nó là đạo.
Đạo trời không tranh mà khéo thắng, không nói mà khéo đáp, không gọi mà vạn vật tự tới, bình thản vô tâm mà khéo mưu tính mọi việc. Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt.
Đạo lớn bị bỏ rồi mới có nhân nghĩa, mưu trí xuất hiện rồi mới có trá ngụy, gia đình bất hòa rồi mới sinh ra hiếu thảo, nước nhà rối loạn rồi mới có tôi trung. Đạo ức chế vật cao, nâng đỡ vật thấp. Đạo trời lấy chỗ thừa mà đắp vào chỗ thiếu hụt. Đạo người thì lấy của người nghèo mà thêm cho người giàu, đây chính là nguồn gốc của sự hỗn loạn. Người khôn ngoan chỉ muốn một điều là không muốn gì cả.
Trời có đạo mà xanh, đất có đạo mà yên, thần có đạo mà linh, biển nhờ có đạo mà đầy, vạn vật có đạo mà thành, đế vương có đạo mà được thiên hạ.
Lời nói chân thật thì không hoa mỹ, lời nói hoa mỹ thì không chân thật. Người thiện thì không cần phải biện giải [vì hành vi tốt rồi], người nào phải biện giải cho mình là người "không thiện". Người biết thì không nói, người nói là người không biết.
Người ta sinh ra thì mềm yếu mà khi chết thì cứng đơ. Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu mà khi chết đi thì lại khô cứng.
Cho nên cứng mạnh là cùng loài với chết, mềm yếu là cùng loài với sống. Vì vậy binh mạnh thì không thắng, cây cứng thì bị chặt. Cứng mạnh thì phải ở dưới, mềm yếu lại được ở trên.
Mạnh mẽ về dám làm [tức quả cảm, cương cường] thì chết, mạnh mẽ về không dám làm [tức thận trọng, nhu nhược] thì sống. Hai cái đó cùng là mạnh mẽ, mà một cái thì được lợi, một cái lại bị hại; ai mà biết được tại sao trời lại ghét cái đó [quả cảm, cương cường]?
Người nào hứa một cách dễ dàng quá thì khó tin được, người nào cho việc gì cũng dễ làm thì sẽ gặp nhiều cái khó. Cho nên người hiểu đạo coi việc gì cũng khó mà rốt cuộc không gặp cái gì khó. Cái có từ cái không mà ra. Không có nghĩa là không có gì cả nhưng phải có cái gì thì mới có cái không có.
Trong tự nhiên, ngay cả những việc khó khăn nhất cũng có thể thực hiện theo cách dễ dàng, việc lớn thành tựu từ những hành động nhỏ hơn. Người khôn ngoan đạt những thành tựu vĩ đại là nhờ biết chia nhỏ hành động của mình.
Cái gì an định thì dễ nắm, giòn thì dễ vỡ, nhỏ thì dễ phân tán. Ngăn ngừa sự tình từ khi chưa manh nha, trị loạn từ khi chưa thành hình.
Cây lớn một ôm, khởi sinh từ một cái mầm nhỏ; đài cao chín tầng khởi đầu từ một sọt đất, đi xa ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân.
Người ta làm việc , thường gần tới lúc thành công thì lại thất bại, vì không cẩn thận như lúc ban đầu, dè sau như trước thì không hỏng việc.
Người hiểu đạo trị thiên hạ theo chính sách vô vi, giữ thái độ điềm đạm. Xem cái nhỏ cũng như cái lớn, cái ít như nhiều, lấy đức báo oán. Giải quyết việc khó từ khi còn dễ, thực hành việc lớn từ khi còn nhỏ [vì việc khó trong thiên hạ khởi từ chỗ dễ, việc lớn khởi từ nhỏ]. Cho nên người đắc đạo trước sau không làm việc gì lớn mà thực hiện được việc lớn. Người đắc đạo làm việc mà không tư lợi.
Đạo lớn bị bỏ rồi mới có nhân nghĩa, mưu trí xuất hiện rồi mới có trá ngụy, gia đình bất hòa rồi mới sinh ra hiếu từ, nước nhà rối loạn rồi mới có tôi trung.
Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm; thánh nhân bất nhân, coi trăm họ như chó rơm [Luật thiên nhiên không có tình thương của con người, cứ thản nhiên, vô tâm với vạn vật, mùa xuân tươi tốt, mùa đông điêu tàn...].
Khoảng giữa trời đất như cái ống hơi; hư không mà không kiệt, càng chuyển động hơi lại càng ra. Càng nói nhiều lại càng khốn cùng, không bằng giữ sự hư tĩnh.
Muốn cho vật gì thu rút lại thì tất hãy mở rộng nó ra đã. Muốn cho ai yếu đi thì tất hãy làm cho họ mạnh lên đã. Muốn phế bỏ ai thì tất hãy đề cử họ lên đã. Muốn cướp lấy vật gì thì tất hãy cho đã. Hiểu như vậy là sâu kín mà sáng suốt. Vì nhu nhược thắng được cương cường.
Người đánh xe giỏi không xông bừa tới trước. Người chiến đấu giỏi không giận dữ, khéo thắng địch là không tranh với địch, khéo dùng người là hạ mình ở dưới người. Đó là cái đức của sự không tranh, đó là cái khéo của sự dùng người, đó là hợp với chỗ cùng cực của Đạo Trời.
Ngũ sắc làm cho người ta mờ mắt; ngũ âm làm cho người ta ù tai; ngũ vị làm cho người ta tê lưỡi, ruỗi ngựa săn bắn làm cho lòng người ta mê muội, vàng bạc làm cho hành vi người ta đồi bại. Cho nên bậc đắc đạo cầu no bụng mà ko cầu vui mắt, bỏ cái xa xỉ, đa dục mà chọn cái chất phác, vô dục. Bậc đắc đạo bận áo vải thô mà ôm ngọc quý trong lòng.
Trời đất trường cửu. Sở dĩ trời đất trường cửu được là vì không sống riêng cho mình, nên mới trường sinh được.
Vì vậy thánh nhân [người đắc đạo] đặt thân mình ở sau mà thân lại được ở trước, đặt thân mình ra ngoài mà thân mới còn được. Như vậy chẳng phải vì thánh nhân không tự tư mà thành được việc riêng của mình ư?
Người cực khéo thì dường như vụng. Người nói giỏi thì dường như ấp úng. Cử động thì thắng được lạnh. Nhưng yên tĩnh thì thắng được nóng. Vậy cứ thanh tĩnh thì mọi vật sẽ đâu vào đấy.
Người quân tử gặp thời thì mặc áo gấm mà ngồi xe ngựa, không gặp thời thì mặc áo vải thô mà đi chân đất. Người tốt thật sự không ý thức được tính thiện trong việc làm của mình, trái lại kẻ dại dột (the foolish) luôn cố gắng tỏ ra là mình tốt.
Không trọng người hiền để dân không tranh, không quý của hiếm để dân không trộm cắp, không phô bày cái gì gợi ham muốn, để lòng dân không loạn.
Chính trị của thánh nhân là làm cho dân lòng thì hư tĩnh, bụng thì no, không ham muốn, không tranh giành, xương cốt thì mạnh.
Khiến cho dân không biết, không muốn mà bọn mưu trí thì không dám hành động. Theo chính sách vô vi thì mọi việc đều yên ổn.
Không học thì không phải lo. Càng theo học thì mỗi ngày dục vọng, "hữu vi" càng tăng, theo đạo thì mỗi ngày dục vọng càng giảm, vô vi càng tăng.
Ta có ba vật báu mà ta ôm giữ cẩn thận, một là lòng nhân ái, hai là tính tiết kiệm, ba là không dám đứng trước thiên hạ. Vì nhân ái mà sinh ra dũng cảm, vì tiết kiệm mà sinh ra sung túc, rộng rãi, vì không dám đứng trước thiên hạ mà làm chủ được thiên hạ.
Nếu không nhân ái mà mong được dũng cảm, không tiết kiệm mà mong được rộng rãi, không chịu đứng sau mà tranh đứng trước người thì tất hỏng việc. Trời muốn cứu ai thì cho người đó lòng nhân ái để tự bảo vệ, lấy lòng nhân ái mà giúp người đó.
Người sáng suốt nghe đạo thì gắng sức mà thi hành, người bình thường nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ, người tăm tối nghe đạo thì cười rộ. Nếu không cười thì đạo đâu còn là đạo nữa?
Nước là vật cực mềm mà lại thắng được vật cực cứng là đá [nước chảy đá mòn]. Nước là vật cực kì mềm mại, nó luôn tìm chỗ thấp mà tới [khiêm nhường], ngày đêm chảy không ngừng, bốc lên thì thành mưa, chảy xuống thì thành sông rạch, thấm vào lòng đất để nuôi vạn vật. Tự nó không ngừng biến đổi, lại sinh ra mọi loài. Nó không tranh với ai, lựa chỗ thấp mà tới, gặp cái gì cản thì nó uốn khúc mà tránh đi, cho nên đâu nó cũng tới được. Đạo cũng ví như nước vậy.
Yếu thắng được mạnh, mềm thắng được cứng, ai cũng biết như vậy nhưng không ai thực hành được.
Vật gì bén nhọn thì dễ gẫy. Ráng giữ cho chậu đầy hoài, chẳng bằng thôi đi; con dao cố mài cho bén nhọn thì lại không bén lâu.
Nghèo hèn chính là gốc của giàu sang. Vàng ngọc đầy nhà [kim ngọc mãn đường], sao mà giữ nổi ? Nên biết khi nào là đủ [tri túc]. Giàu mà kiêu căng, khoe khoang là tự rước họa vào thân.
Ba mươi nan hoa cùng qui vào 1 cái bánh, nhưng chính nhờ khoảng trống không trong cái bánh mà xe mới dùng được. Nhồi đất sét để làm chén bát, nhưng chính nhờ cái khoảng trống không ở trong mà chén bát mới dùng được. Đục cửa, cửa sổ để làm nhà, chính nhờ cái trống không đó mà nhà mới dùng được. Vậy ta tưởng cái "có" [bánh, chén bát, nhà] có lợi cho ta mà thực ra cái "không" mới làm cho cái "có" hữu ích.
Người đời được vinh hay bị nhục thì lòng sinh ra rối loạn, sợ vạ lớn thì sinh ra rối loạn. Tại sao vinh, nhục thì lại sinh ra rối loạn ? Là vì vinh thì được tôn, nhục thì bị hèn; được thì lòng rối loạn [mừng rỡ mà!]; mất thì lòng rối loạn [rầu rĩ mà!]; cho nên mới bảo là vinh, nhục sinh ra rối loạn. Vậy phải làm sao ? Chúng ta sỡ dĩ sợ vạ lớn là vì chúng ta có cái thân. Nếu chúng ta quên cái thân mình đi, thì còn sợ gì lòng sinh ra rối loạn nữa? Cho nên kẻ nào coi trọng sự hy sinh thân mình cho thiên hạ, thì có thể tin cậy vào kẻ đó được.
Người nào giữ được đạo thì không tự mãn, không cố chấp, cũng không tự ái. Vì vậy nên mới có thể bỏ cái qua cái cũ mà chấp nhận cái mới được. Khi xem xét sự vật, không được quên mặt đối lập của nó. Nghĩ đến cái hữu hạn thì đừng quên cái vô hạn.
Ai có thể đang đục mà lắng xuống để từ từ trong ra ? Ai có thể đang hư tĩnh mà phát động để lần lần sinh động lên ? Người nào giữ được đạo ấy thì không tự mãn, không cố chấp, cũng không tự ái. Vì vậy nên mới có thể bỏ cái qua cái cũ mà chấp nhận cái mới được.
Kẻ đứng 1 chân thì không thể đứng được lâu, kẻ dang chân ra thì không thể đi được, kẻ tự biểu hiện mình thì không bao giờ chói lọi, kẻ tự kể công thì không có công, kẻ tự phụ thì chẳng khuyên bảo được ai, kẻ vẽ rắn thêm chân thì không trường cửu. Thái độ đó được ví như đồ ăn thừa, những ung nhọt ai ai cũng ghét. Thiên bất dung gian.
Ai cũng cho cái đẹp là đẹp do đó mà phát sinh ra quan niệm cái xấu; ai cũng cho cái thiện là thiện do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái ác. Tại sao con người thích cái đẹp mà lại không thích cái xấu ? Là vì "có" và "không" sinh ra lẫn nhau, "dễ" và "khó" tạo nên lẫn nhau, cao thấp dựa vào nhau mà tồn tại ...
Kẻ biết người là người khôn, kẻ tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh, thắng được mình là kiên cường. Kẻ biết thế nào là đủ là người giàu; kẻ gắng sức là người có chí. Kẻ nào ko rời bỏ những điều trên thì sẽ được lâu dài, chết mà không mất là trường thọ. Người hiểu đạo làm việc tuân theo quy luật tự nhiên, chỉ làm những việc cần thiết cho bản thân.
Hồn nhiên, vô tư, vô dục như đứa trẻ mới sanh là có đức dày, ai cũng yêu quý, muốn đạt như vậy không phải là dễ. Đứa trẻ mới sinh độc trùng ko chích, mãnh thú không ăn thịt, ác điểu ko vồ. Xương yếu gân mềm mà tay nắm rất chặt, suốt ngày gào hét mà giọng ko khản, như vậy là khí cực hòa.
Dứt thánh hiền, bỏ mưu trí dân lợi gấp trăm; dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại hiếu từ; dứt trí khôn bỏ lợi lộc, không có trộm giặc.
Ba cái đó( mưu trí, nhân nghĩa, xảo lợi) vì là cái văn vẻ bề ngoài không đủ để trị dân nên phải bỏ; khiến cho dân quy về điều này: ngoài thì mộc mạc, trong thì giữ sự đơn giản, giảm tư tâm bớt dục vọng mới là tích cực.
Dạ (giọng kính trọng) khác với ơi (giọng xem thường) bao nhiêu? Thiện với ác khác nhau như thế nào? Cái mọi người sợ ta không thể không không sợ. Vũ trụ rộng lớn thay, không thể nào hiểu hết được.
Mọi người hớn hở như dự bữa tiệc lớn, như mùa xuân dạo chơi; bậc đắc đạo điềm tĩnh, không lộ chút tình ý gì như đứa trẻ chưa biết gì, thản nhiên mà đi như không có nơi để về. Mọi người có thừa, riêng bậc đắc đạo như thiếu thốn, trong lòng thì trống rỗng! Mọi người đều có chỗ để dùng, riêng bậc đắc đạo luôn bảo thủ. Người hiểu đạo khác người mà quý mẹ của muôn loài (tức đạo).
Vạn vật tuần hoàn, âm cực dương sinh, lúc sinh lúc tử, trăng tròn trăng khuyết. Vạn vật biến đổi rồi trở lại cái bản thể của nó( trở về với đạo). Từ xưa đến nay, đạo tồn tại hoài, nó sáng tạo ra vạn vật. Chúng ta do đâu biết được bản chất vạn vật ? Đó là do đạo.
Người xưa nói: “Khiêm tốn là gốc của cao quý”. Người khôn ngoan giữ lấy đạo làm phép tắc cho thiên hạ. Không tự biểu hiện cho nên mới sáng tỏ, không tự cho là phải nên mới chói lọi, không tự kể công nên mới là có công, không tự phụ cho nên mới hơn người. Chỉ vì không tranh với ai nên không ai tranh với mình được.
Người xưa bảo: "Cong (chịu khuất phục) thì sẽ được bảo toàn", đâu phải hư ngôn! Nên chân thành giữ vẹn cái đạo mà về với nó. Trong trời đất có bốn cái vĩ đại là Đạo, tự nhiên, trời đất và con người. Luật con người nên bắt chước tự nhiên, luật tự nhiên bắt chước luật của trời đất, luật trời đất bắt chước Đạo.
Ít nói thì hợp với đạo. Cho nên gió lốc không thể thổi suốt buổi sáng, mưa rào không suốt ngày. Ai làm nên những cái ấy? Chính là do trời đất. Trời đất còn không thể lâu được, huống hồ là con người? Người hiểu đạo biết rằng không ai có thể đoán trước những gì tương lai nắm giữ.
Vũ khí là vật gây lo sợ, ai cũng ghét cho nên người hiểu đạo không dùng binh khí. Chỉ dùng đến nó khi bất đắc dĩ, khi bảo vệ hòa bình, mà dùng đến thì điềm đạm là hơn cả. Chiến thắng mà vui mừng tức là thích giết người. Thích giết người thì không trị được thiên hạ. Chỗ nào đóng quân thì gai góc mọc đầy. Sau cuộc chinh chiến tất có mất mùa.
Việc lành thì trọng bên trái, việc dữ thì trọng bên phải. Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng thương tiếc mà khóc, chiến thắng thì nên lấy tang lễ mà xử. Thắng mà không bức người, vì vật mạnh thì có lúc suy. Nếu không như vậy thì là trái Đạo. Trái Đạo thì sớm bị tiêu diệt. Trị nước phải được tiến hành cẩn thận, giống như việc nấu cá nhỏ. Người khôn ngoan làm việc mà không bao giờ xảo trá, tư lợi.
-------
Lão Tử tức là một nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Hoa cổ đại, là người sáng lập trường phái Đạo gia( đạo Lão). Ông tên thật là Lý Nhĩ, tên thường gọi là lão Đam, người làng Khúc Nhân, hương Lệ, nước Sở. Ông làm chức quan giữ sách nhà Chu, học rộng biết nhiều, sau về quê ở ẩn. Tương truyền, trước khi về ở ẩn đến cửa quan Hàm Cốc, viên quan coi cửa là Doãn Hỉ bảo:"Ông sắp đi ở ẩn, rán vì tôi mà viết sách để lại". Thế là Lão Tử viết một cuốn sách chỉ gồm khoảng năm ngàn chữ bàn về "Đạo" và "Đức"( tức Đạo Đức Kinh). Viết xong rồi bỏ đi, về sau không ai còn nghe đến, không biết sống chết ra sao.
Đạo Đức Kinh gồm có 81 chương với khoảng 5000 chữ Hán, chia làm 2 phần: Thượng Kinh và Hạ Kinh.
Đạo trời không tranh mà khéo thắng, không nói mà khéo đáp, không gọi mà vạn vật tự tới, bình thản vô tâm mà khéo mưu tính mọi việc. Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt.
Đạo lớn bị bỏ rồi mới có nhân nghĩa, mưu trí xuất hiện rồi mới có trá ngụy, gia đình bất hòa rồi mới sinh ra hiếu thảo, nước nhà rối loạn rồi mới có tôi trung. Đạo ức chế vật cao, nâng đỡ vật thấp. Đạo trời lấy chỗ thừa mà đắp vào chỗ thiếu hụt. Đạo người thì lấy của người nghèo mà thêm cho người giàu, đây chính là nguồn gốc của sự hỗn loạn. Người khôn ngoan chỉ muốn một điều là không muốn gì cả.
Trời có đạo mà xanh, đất có đạo mà yên, thần có đạo mà linh, biển nhờ có đạo mà đầy, vạn vật có đạo mà thành, đế vương có đạo mà được thiên hạ.
Lời nói chân thật thì không hoa mỹ, lời nói hoa mỹ thì không chân thật. Người thiện thì không cần phải biện giải [vì hành vi tốt rồi], người nào phải biện giải cho mình là người "không thiện". Người biết thì không nói, người nói là người không biết.
Người ta sinh ra thì mềm yếu mà khi chết thì cứng đơ. Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu mà khi chết đi thì lại khô cứng.
Cho nên cứng mạnh là cùng loài với chết, mềm yếu là cùng loài với sống. Vì vậy binh mạnh thì không thắng, cây cứng thì bị chặt. Cứng mạnh thì phải ở dưới, mềm yếu lại được ở trên.
Mạnh mẽ về dám làm [tức quả cảm, cương cường] thì chết, mạnh mẽ về không dám làm [tức thận trọng, nhu nhược] thì sống. Hai cái đó cùng là mạnh mẽ, mà một cái thì được lợi, một cái lại bị hại; ai mà biết được tại sao trời lại ghét cái đó [quả cảm, cương cường]?
Người nào hứa một cách dễ dàng quá thì khó tin được, người nào cho việc gì cũng dễ làm thì sẽ gặp nhiều cái khó. Cho nên người hiểu đạo coi việc gì cũng khó mà rốt cuộc không gặp cái gì khó. Cái có từ cái không mà ra. Không có nghĩa là không có gì cả nhưng phải có cái gì thì mới có cái không có.
Trong tự nhiên, ngay cả những việc khó khăn nhất cũng có thể thực hiện theo cách dễ dàng, việc lớn thành tựu từ những hành động nhỏ hơn. Người khôn ngoan đạt những thành tựu vĩ đại là nhờ biết chia nhỏ hành động của mình.
Cái gì an định thì dễ nắm, giòn thì dễ vỡ, nhỏ thì dễ phân tán. Ngăn ngừa sự tình từ khi chưa manh nha, trị loạn từ khi chưa thành hình.
Cây lớn một ôm, khởi sinh từ một cái mầm nhỏ; đài cao chín tầng khởi đầu từ một sọt đất, đi xa ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân.
Người ta làm việc , thường gần tới lúc thành công thì lại thất bại, vì không cẩn thận như lúc ban đầu, dè sau như trước thì không hỏng việc.
Người hiểu đạo trị thiên hạ theo chính sách vô vi, giữ thái độ điềm đạm. Xem cái nhỏ cũng như cái lớn, cái ít như nhiều, lấy đức báo oán. Giải quyết việc khó từ khi còn dễ, thực hành việc lớn từ khi còn nhỏ [vì việc khó trong thiên hạ khởi từ chỗ dễ, việc lớn khởi từ nhỏ]. Cho nên người đắc đạo trước sau không làm việc gì lớn mà thực hiện được việc lớn. Người đắc đạo làm việc mà không tư lợi.
Đạo lớn bị bỏ rồi mới có nhân nghĩa, mưu trí xuất hiện rồi mới có trá ngụy, gia đình bất hòa rồi mới sinh ra hiếu từ, nước nhà rối loạn rồi mới có tôi trung.
Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm; thánh nhân bất nhân, coi trăm họ như chó rơm [Luật thiên nhiên không có tình thương của con người, cứ thản nhiên, vô tâm với vạn vật, mùa xuân tươi tốt, mùa đông điêu tàn...].
Khoảng giữa trời đất như cái ống hơi; hư không mà không kiệt, càng chuyển động hơi lại càng ra. Càng nói nhiều lại càng khốn cùng, không bằng giữ sự hư tĩnh.
Muốn cho vật gì thu rút lại thì tất hãy mở rộng nó ra đã. Muốn cho ai yếu đi thì tất hãy làm cho họ mạnh lên đã. Muốn phế bỏ ai thì tất hãy đề cử họ lên đã. Muốn cướp lấy vật gì thì tất hãy cho đã. Hiểu như vậy là sâu kín mà sáng suốt. Vì nhu nhược thắng được cương cường.
Người đánh xe giỏi không xông bừa tới trước. Người chiến đấu giỏi không giận dữ, khéo thắng địch là không tranh với địch, khéo dùng người là hạ mình ở dưới người. Đó là cái đức của sự không tranh, đó là cái khéo của sự dùng người, đó là hợp với chỗ cùng cực của Đạo Trời.
Ngũ sắc làm cho người ta mờ mắt; ngũ âm làm cho người ta ù tai; ngũ vị làm cho người ta tê lưỡi, ruỗi ngựa săn bắn làm cho lòng người ta mê muội, vàng bạc làm cho hành vi người ta đồi bại. Cho nên bậc đắc đạo cầu no bụng mà ko cầu vui mắt, bỏ cái xa xỉ, đa dục mà chọn cái chất phác, vô dục. Bậc đắc đạo bận áo vải thô mà ôm ngọc quý trong lòng.
Trời đất trường cửu. Sở dĩ trời đất trường cửu được là vì không sống riêng cho mình, nên mới trường sinh được.
Vì vậy thánh nhân [người đắc đạo] đặt thân mình ở sau mà thân lại được ở trước, đặt thân mình ra ngoài mà thân mới còn được. Như vậy chẳng phải vì thánh nhân không tự tư mà thành được việc riêng của mình ư?
Người cực khéo thì dường như vụng. Người nói giỏi thì dường như ấp úng. Cử động thì thắng được lạnh. Nhưng yên tĩnh thì thắng được nóng. Vậy cứ thanh tĩnh thì mọi vật sẽ đâu vào đấy.
Người quân tử gặp thời thì mặc áo gấm mà ngồi xe ngựa, không gặp thời thì mặc áo vải thô mà đi chân đất. Người tốt thật sự không ý thức được tính thiện trong việc làm của mình, trái lại kẻ dại dột (the foolish) luôn cố gắng tỏ ra là mình tốt.
Không trọng người hiền để dân không tranh, không quý của hiếm để dân không trộm cắp, không phô bày cái gì gợi ham muốn, để lòng dân không loạn.
Chính trị của thánh nhân là làm cho dân lòng thì hư tĩnh, bụng thì no, không ham muốn, không tranh giành, xương cốt thì mạnh.
Khiến cho dân không biết, không muốn mà bọn mưu trí thì không dám hành động. Theo chính sách vô vi thì mọi việc đều yên ổn.
Không học thì không phải lo. Càng theo học thì mỗi ngày dục vọng, "hữu vi" càng tăng, theo đạo thì mỗi ngày dục vọng càng giảm, vô vi càng tăng.
Ta có ba vật báu mà ta ôm giữ cẩn thận, một là lòng nhân ái, hai là tính tiết kiệm, ba là không dám đứng trước thiên hạ. Vì nhân ái mà sinh ra dũng cảm, vì tiết kiệm mà sinh ra sung túc, rộng rãi, vì không dám đứng trước thiên hạ mà làm chủ được thiên hạ.
Nếu không nhân ái mà mong được dũng cảm, không tiết kiệm mà mong được rộng rãi, không chịu đứng sau mà tranh đứng trước người thì tất hỏng việc. Trời muốn cứu ai thì cho người đó lòng nhân ái để tự bảo vệ, lấy lòng nhân ái mà giúp người đó.
Người sáng suốt nghe đạo thì gắng sức mà thi hành, người bình thường nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ, người tăm tối nghe đạo thì cười rộ. Nếu không cười thì đạo đâu còn là đạo nữa?
Nước là vật cực mềm mà lại thắng được vật cực cứng là đá [nước chảy đá mòn]. Nước là vật cực kì mềm mại, nó luôn tìm chỗ thấp mà tới [khiêm nhường], ngày đêm chảy không ngừng, bốc lên thì thành mưa, chảy xuống thì thành sông rạch, thấm vào lòng đất để nuôi vạn vật. Tự nó không ngừng biến đổi, lại sinh ra mọi loài. Nó không tranh với ai, lựa chỗ thấp mà tới, gặp cái gì cản thì nó uốn khúc mà tránh đi, cho nên đâu nó cũng tới được. Đạo cũng ví như nước vậy.
Yếu thắng được mạnh, mềm thắng được cứng, ai cũng biết như vậy nhưng không ai thực hành được.
Vật gì bén nhọn thì dễ gẫy. Ráng giữ cho chậu đầy hoài, chẳng bằng thôi đi; con dao cố mài cho bén nhọn thì lại không bén lâu.
Nghèo hèn chính là gốc của giàu sang. Vàng ngọc đầy nhà [kim ngọc mãn đường], sao mà giữ nổi ? Nên biết khi nào là đủ [tri túc]. Giàu mà kiêu căng, khoe khoang là tự rước họa vào thân.
Ba mươi nan hoa cùng qui vào 1 cái bánh, nhưng chính nhờ khoảng trống không trong cái bánh mà xe mới dùng được. Nhồi đất sét để làm chén bát, nhưng chính nhờ cái khoảng trống không ở trong mà chén bát mới dùng được. Đục cửa, cửa sổ để làm nhà, chính nhờ cái trống không đó mà nhà mới dùng được. Vậy ta tưởng cái "có" [bánh, chén bát, nhà] có lợi cho ta mà thực ra cái "không" mới làm cho cái "có" hữu ích.
Người đời được vinh hay bị nhục thì lòng sinh ra rối loạn, sợ vạ lớn thì sinh ra rối loạn. Tại sao vinh, nhục thì lại sinh ra rối loạn ? Là vì vinh thì được tôn, nhục thì bị hèn; được thì lòng rối loạn [mừng rỡ mà!]; mất thì lòng rối loạn [rầu rĩ mà!]; cho nên mới bảo là vinh, nhục sinh ra rối loạn. Vậy phải làm sao ? Chúng ta sỡ dĩ sợ vạ lớn là vì chúng ta có cái thân. Nếu chúng ta quên cái thân mình đi, thì còn sợ gì lòng sinh ra rối loạn nữa? Cho nên kẻ nào coi trọng sự hy sinh thân mình cho thiên hạ, thì có thể tin cậy vào kẻ đó được.
Người nào giữ được đạo thì không tự mãn, không cố chấp, cũng không tự ái. Vì vậy nên mới có thể bỏ cái qua cái cũ mà chấp nhận cái mới được. Khi xem xét sự vật, không được quên mặt đối lập của nó. Nghĩ đến cái hữu hạn thì đừng quên cái vô hạn.
Ai có thể đang đục mà lắng xuống để từ từ trong ra ? Ai có thể đang hư tĩnh mà phát động để lần lần sinh động lên ? Người nào giữ được đạo ấy thì không tự mãn, không cố chấp, cũng không tự ái. Vì vậy nên mới có thể bỏ cái qua cái cũ mà chấp nhận cái mới được.
Kẻ đứng 1 chân thì không thể đứng được lâu, kẻ dang chân ra thì không thể đi được, kẻ tự biểu hiện mình thì không bao giờ chói lọi, kẻ tự kể công thì không có công, kẻ tự phụ thì chẳng khuyên bảo được ai, kẻ vẽ rắn thêm chân thì không trường cửu. Thái độ đó được ví như đồ ăn thừa, những ung nhọt ai ai cũng ghét. Thiên bất dung gian.
Ai cũng cho cái đẹp là đẹp do đó mà phát sinh ra quan niệm cái xấu; ai cũng cho cái thiện là thiện do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái ác. Tại sao con người thích cái đẹp mà lại không thích cái xấu ? Là vì "có" và "không" sinh ra lẫn nhau, "dễ" và "khó" tạo nên lẫn nhau, cao thấp dựa vào nhau mà tồn tại ...
Kẻ biết người là người khôn, kẻ tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh, thắng được mình là kiên cường. Kẻ biết thế nào là đủ là người giàu; kẻ gắng sức là người có chí. Kẻ nào ko rời bỏ những điều trên thì sẽ được lâu dài, chết mà không mất là trường thọ. Người hiểu đạo làm việc tuân theo quy luật tự nhiên, chỉ làm những việc cần thiết cho bản thân.
Hồn nhiên, vô tư, vô dục như đứa trẻ mới sanh là có đức dày, ai cũng yêu quý, muốn đạt như vậy không phải là dễ. Đứa trẻ mới sinh độc trùng ko chích, mãnh thú không ăn thịt, ác điểu ko vồ. Xương yếu gân mềm mà tay nắm rất chặt, suốt ngày gào hét mà giọng ko khản, như vậy là khí cực hòa.
Dứt thánh hiền, bỏ mưu trí dân lợi gấp trăm; dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại hiếu từ; dứt trí khôn bỏ lợi lộc, không có trộm giặc.
Ba cái đó( mưu trí, nhân nghĩa, xảo lợi) vì là cái văn vẻ bề ngoài không đủ để trị dân nên phải bỏ; khiến cho dân quy về điều này: ngoài thì mộc mạc, trong thì giữ sự đơn giản, giảm tư tâm bớt dục vọng mới là tích cực.
Dạ (giọng kính trọng) khác với ơi (giọng xem thường) bao nhiêu? Thiện với ác khác nhau như thế nào? Cái mọi người sợ ta không thể không không sợ. Vũ trụ rộng lớn thay, không thể nào hiểu hết được.
Mọi người hớn hở như dự bữa tiệc lớn, như mùa xuân dạo chơi; bậc đắc đạo điềm tĩnh, không lộ chút tình ý gì như đứa trẻ chưa biết gì, thản nhiên mà đi như không có nơi để về. Mọi người có thừa, riêng bậc đắc đạo như thiếu thốn, trong lòng thì trống rỗng! Mọi người đều có chỗ để dùng, riêng bậc đắc đạo luôn bảo thủ. Người hiểu đạo khác người mà quý mẹ của muôn loài (tức đạo).
Vạn vật tuần hoàn, âm cực dương sinh, lúc sinh lúc tử, trăng tròn trăng khuyết. Vạn vật biến đổi rồi trở lại cái bản thể của nó( trở về với đạo). Từ xưa đến nay, đạo tồn tại hoài, nó sáng tạo ra vạn vật. Chúng ta do đâu biết được bản chất vạn vật ? Đó là do đạo.
Người xưa nói: “Khiêm tốn là gốc của cao quý”. Người khôn ngoan giữ lấy đạo làm phép tắc cho thiên hạ. Không tự biểu hiện cho nên mới sáng tỏ, không tự cho là phải nên mới chói lọi, không tự kể công nên mới là có công, không tự phụ cho nên mới hơn người. Chỉ vì không tranh với ai nên không ai tranh với mình được.
Người xưa bảo: "Cong (chịu khuất phục) thì sẽ được bảo toàn", đâu phải hư ngôn! Nên chân thành giữ vẹn cái đạo mà về với nó. Trong trời đất có bốn cái vĩ đại là Đạo, tự nhiên, trời đất và con người. Luật con người nên bắt chước tự nhiên, luật tự nhiên bắt chước luật của trời đất, luật trời đất bắt chước Đạo.
Ít nói thì hợp với đạo. Cho nên gió lốc không thể thổi suốt buổi sáng, mưa rào không suốt ngày. Ai làm nên những cái ấy? Chính là do trời đất. Trời đất còn không thể lâu được, huống hồ là con người? Người hiểu đạo biết rằng không ai có thể đoán trước những gì tương lai nắm giữ.
Vũ khí là vật gây lo sợ, ai cũng ghét cho nên người hiểu đạo không dùng binh khí. Chỉ dùng đến nó khi bất đắc dĩ, khi bảo vệ hòa bình, mà dùng đến thì điềm đạm là hơn cả. Chiến thắng mà vui mừng tức là thích giết người. Thích giết người thì không trị được thiên hạ. Chỗ nào đóng quân thì gai góc mọc đầy. Sau cuộc chinh chiến tất có mất mùa.
Việc lành thì trọng bên trái, việc dữ thì trọng bên phải. Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng thương tiếc mà khóc, chiến thắng thì nên lấy tang lễ mà xử. Thắng mà không bức người, vì vật mạnh thì có lúc suy. Nếu không như vậy thì là trái Đạo. Trái Đạo thì sớm bị tiêu diệt. Trị nước phải được tiến hành cẩn thận, giống như việc nấu cá nhỏ. Người khôn ngoan làm việc mà không bao giờ xảo trá, tư lợi.
-------
Lão Tử tức là một nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Hoa cổ đại, là người sáng lập trường phái Đạo gia( đạo Lão). Ông tên thật là Lý Nhĩ, tên thường gọi là lão Đam, người làng Khúc Nhân, hương Lệ, nước Sở. Ông làm chức quan giữ sách nhà Chu, học rộng biết nhiều, sau về quê ở ẩn. Tương truyền, trước khi về ở ẩn đến cửa quan Hàm Cốc, viên quan coi cửa là Doãn Hỉ bảo:"Ông sắp đi ở ẩn, rán vì tôi mà viết sách để lại". Thế là Lão Tử viết một cuốn sách chỉ gồm khoảng năm ngàn chữ bàn về "Đạo" và "Đức"( tức Đạo Đức Kinh). Viết xong rồi bỏ đi, về sau không ai còn nghe đến, không biết sống chết ra sao.
Đạo Đức Kinh gồm có 81 chương với khoảng 5000 chữ Hán, chia làm 2 phần: Thượng Kinh và Hạ Kinh.
·
Thượng Kinh gồm 37 chương, bắt đầu
bằng câu: "Đạo khả Đạo phi thường Đạo". Thượng Kinh luận về chữ Đạo
nên được gọi là Đạo Kinh.
·
Hạ Kinh gồm 44 chương, bắt đầu bằng
câu: "Thượng Đức bất Đức thị dĩ hữu Đức". Hạ Kinh luận về chữ Đức nên
được gọi là Đức Kinh.
Tương truyền, Khổng Tử qua Chu thăm Lão Tử. Lão Tử cởi trâu ra tận đầu làng đón Khổng Tử. Hai người đàm đạo với nhau trong ba ngày về Đạo. Đến khi chia tay, Lão Tử bảo với Khổng Tử rằng:
"Những người ông nói đó, thịt xương đều nát cả rồi, chỉ còn lại lời của họ mà thôi. Tôi nghe nói người giàu sang tiễn nhau bằng vàng bạc, người nhân tiễn nhau bằng lời nói. Tôi không phải là người giàu sang, tạm coi mình là người nhân mà tiễn ông bằng lời này: Người buôn giỏi thì giấu kĩ vật quý, xem ngoài như không có gì; người đức cao thì tướng mạo như ngu độn. Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục, cái vẻ hăm hở cùng cái chí quá hăng của ông đi, những cái đó không có ích gì cho ông đâu. Tôi chỉ khuyên ông có bấy nhiêu thôi"
Khổng Tử về đến nhà suốt ba ngày không ra khỏi cửa, bảo với môn sinh rằng:
"Loài chim, ta biết nó bay được; loài cá ta biết nó bơi được; loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, bơi thì dùng câu để bắt, bay thì dùng tên để bắn. Còn loài rồng cưỡi gió cưỡi mây mà bay lên trời thì ta không sao biết được. Nay ta gặp ông Lão Tử; ông là con rồng chăng ?"
Triết học Lão tử nêu bật cái lý tưởng cao thượng nhất về hòa bình, khoan dung, giản dị và tri túc. Giáo huấn của ông gồm bốn điểm: trí tuệ nên như ngu độn, đời sống nên ẩn dật, xử thế nên nhu nhược và tánh tình nên giản phác.
Đến đời Tần-Hán, các đạo sĩ thuộc phái Đạo gia thờ Lão Tử nhưng không còn quan tâm nghiên cứu triết học Lão-Trang mà chỉ toàn lo bàn chuyện tu tiên, luyện thuốc trường sinh bất tử. Phái Đạo gia suy dần, tuy nhiên những tư tưởng của Lão Tử thì đã trở nên bất tử với thời gian. Theo các nhà nghiên cứu, tư tưởng của Lão Tử không chỉ là một triết học nhân sinh mà còn là vũ trụ quan tiên báo khoa học hiện đại.
( Sưu tầm)
Hồng Lâu Mộng | Vỡ
tan giấc mộng lâu hồng Bài viết của SanSan
“Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng, Độc tận thi thư diệc uổng nhiên!”
Đã đọc Hồng Lâu Mộng, đã xem Hồng Lâu Mộng và cũng đã khóc vì Hồng Lâu Mộng
Đã tương tư vì Hồng Lâu Mộng và cũng đã day dứt vì Hồng Lâu Mộng.
Hồng lâu mộng ..một giấc mộng dài và đẹp. Nó là tập hợp của muôn vàn những giấc mơ của con người trong xã hội phong kiến đầy mâu thuẫn, rối ren và mục nát. Cho dù họ là ai, là người nông dân chân đất quanh năm bán mặt cho đất ban lưng cho trời chỉ mong kiếm đủ nhà ba bồ thóc, là những thiếu gia tiểu thư con nhà quyền quý trong nhung trong lụa, là ả đào chót vương tình kíêm khách, là kẻ hầu người hạ trong xã hội, hay là vương phi quyền quý trên tận đỉnh cao…Trong Hồng Lâu Mộng, mọi người đều mơ đến một cái gì đó, rất thành thực mà cũng rất cao sang..nó tượng trưng cho những khát vọng sống và được sống, yêu và được yêu, rất người, rất bản năng ,nhưng để rồi cuối cùng, tận cùng của giấc mộng lâu hồng, và cũng là tận cùng của bi kịch, chợt ngỡ ngàng nhận ra rằng họ đang xây lâu đài ước mơ trên cát, để rồi chỉ cần một đợt sóng nhẹ nhàng vỗ bờ, cũng đủ sức cuốn trôi đi tất cả.
Già Lưu,bà già nhà quê mơ thằng cháu tên Bản mau lớn được đi làm mướn ở nhà họ Giả, Tích Xuân, cô tiểu thư bướng bỉnh cho mơ về cõi Phật mà coi người đời là dơ bẩn, Bảo Thoa - nàng mơ về tình yêu của Bảo Ngọc và cái chức mợ hai quyền quý, Hương Lăng- nàng mơ về ngày đoàn tụ với gia đình mà phải chết trong tủi hờn… Tương Vân - nàng mơ gì mà cuối cùng kiếp người bạc hạnh.. Tình Văn -nàng mơ gì mà cười trong tiếng xé quạt để rồi chết đi trong bạc bẽo đơn côi…Thám Xuân, nàng mơ gì để rồi cuối cùng bơ vơ nơi đất khách …Giả Bảo Ngọcvà Lâm Đại Ngọc..họ mơ gì trong giấc mộng lâu hồng đó để rồi âm dương cách biệt mãi mãi ôm nỗi hận thác xuống tuyền đài chưa tan?
Giấc mơ của họ cũng giản dị lắm,là ước mơ được đến bên nhau và được nói lời yêu, theo cách của riêng họ, theo lời nói của trái tim họ chứ không phải theo bất cứ lề lối nào khác của xã hội phong kiến khắt khe, độc đoán. Hai trái tim, hai tâm hồn ấy là tiêu biểu cho những thanh cao và bứt phá ra khỏi khuôn khổ của thời thế lúc bấy giờ. Họ,tuy chưa một lần thực sự được đến với nhau, nhưng, tình duyên của họ là tự nhiên, là định sẵn, là do số mệnh an bài và do cái tôi trong mỗi con người họ tạo nên.
Bảo Ngọc, cậu ấm ngậm ngọc sinh ra trong một gia đình vương giả bậc nhất kinh thành và theo một lẽ tự nhiên trở thành báu vật sống của trên trên dưới dưới của gia tộc họ Giả. Giả Bảo Ngọc- cái tên đó làm người người ngưỡng mộ..có khi người ta cất công đi cả trăm dặm đường chỉ để muốn được chiêm ngưỡng dung nhan của câu hai Bảo vốn từ nhỏ được trướng rủ màn che sống cùng nhi nữ. Sống cùng đám quần thoa , ngửi phấn thơm,ăn sáp đỏ,trong cậu hình thành nên một tư tưởng " phi phong kiến " : trọng nữ khinh nam. “Xương thịt con gái là nước kết thành. Tôi trông thấy con gái thì người tôi nhẹ nhàng, khoan khoái, thấy con trai thì như bị phải hơi dơ bấn”. Khi mà sách thánh hiền răn dạy đấng nam nhi tỏ mặt anh tài theo chốn quan trường giúp dân vì nước, thì Bảo Ngọc lại tâm niệm “quan văn chết vì lời can gián, quan võ chết vì đánh giặc" . Có cái gì đó bất cần và vô cùng phá cách trong lối hành động và suy nghĩ làm người của Bảo Ngọc...anh ta luôn muốn vươn lên để khẳng định một cái tôi rất riêng và mạnh mẽ của mình, muốn vượt qua những định chế khắc nghiệt,sáo rỗng và mô thức của xã hội đương thời. Nhưng bức tường phong kiến cao vời vời đã không ngần ngại chặn đứng những suy nghĩ mang tính chất đột phá đó. Làm ông vua nhỏ trong chăn ấm đệm êm, Bảo Ngọc trở nên cô độc với những suy nghĩ của chính mình. Và độc hành trên con đường đó, Bảo Ngọcgặp Đại Ngọc.
Lâm Đại Ngọc - cô gái xứ Tô Châu vì gia cảnh bất hạnh mà đến nương nhờ nhà bà ngoại. Xinh đẹp và thoát tục, tài hoa và phong nhã, đa sầu đa cảm với tâm hồn và thể chất mong manh yếu đuối. Nàng nghĩ nhiều, khóc nhiều và giày vò bản thân mình nhiều.Cũng bởi nàng xinh dẹp hơn người ta, nét đẹp u sầu đa đoan ( Đôi lông mày điểm màu khói lạt, dường như cau mà lại không cau; đôi con mắt chứa chan tình tứ, dáng như vui mà lại không vui. Má hơi lúm, có vẻ âu sầu; Người hơi mệt trông càng tha thướt. Lệ rớm rưng rưng, hơi ra nhè nhẹ. Vẻ thư nhàn, hoa rọi mặt hồ; dáng đi đứng, liễu nghiêng trước gió)
làm anh chàng Bảo Ngọc lần đầu gặp mặt đã điêu đứng tâm hồn đem cả miếng ngọc bản mệnh vứt đi vì : " ta có mà em không có". Cũng bởi nàng thông minh hơn người ta, và cũng cả nghĩ hơn người ta,bởi vậy trọn một kiếp người nàng mang danh bạc mệnh phấn hồng. Nhưng chung quy cũng tại nàng khổ hơn người ta, mang danh tiểu thư thật đấy, nhưng dù sao cũng là ăn nhờ ở đậu, là kiếp người tha hương không cha không mẹ, là cánh bèo dập dềnh trong biển nước, là chiếc lá xoay vẫn trong phong ba.Cô đơn và hiu quạnh trước sự phồn hoa đô hội, nàng là đoá phù dung mong manh trước gió, nàng là hạt sương mai vỡ oà khi nắng lên. Thương cảm cho số phạn của mình, nàng thương hoa, khóc hoa và chôn hoa.
" Chôn hoa ai bảo ngẩn ngơ
bao giờ ta chết ai là người chôn..."
Câu tự tình hay lắm và câu hỏi càng hay hơn. Khi nàng chết, ai là người bên nàng tiễn biệt? Khi nàng nhắm mắt xuối tay, ai là người vì nàng mà giỏ giọt nước mắt chân tình?
Bảo Ngọc và Đại Ngọc đến với nhau vì họ là hai tâm hồn đơn côi không nơi bấu víu. Cái ý nghĩ kì quặc của Bảo Ngọc lại tìm thấy sự ủng hộ và đồng tình nơi Đại Ngọc, và, Đại Ngọc, nàng tìm thấy sự đồng cảm nâng niu nơi Bảo Ngọc. Tuy rằng có những lúc Bảo Ngọc " gần cô chị ( Bảo Thoa) và quên khuấy cô em , nhưng đến cùng, anh chỉ yêu một mình Đại Ngọc mà thôi. Chưa bao giờ ngại ngần bày tỏ, tình ý của Bảo Ngọc với Đại Ngọc là thứ tình cảm trong sáng ngát hương xua đi cái bít bùng đầy âm mưu toan tính của bầy lang sói.
" Nếu tôi được cùng tiểu thư đa tình sum vầy phượng loan "
" Tôi là người nhiều sầu nhiều bệnh, nàng là trang nghiêng nước nghiêng thành'
Không chỉ một lần Bảo Ngọc mượn lời Dương Thuỵ tỏ tình với Thôi Oanh Oanh ( Tây Sương Kí) để nói tấm lòng mình, nhưng....Giá như cuộc sống đừngcó những chữ nhưng như vậy. Đại Ngọc là người nhiều tự ái, nàng tủi số kiếp " nữ nhân ngoại tộc " của mình mà năm lần bảy lượt từ chối,cũng không ít lần má hồng giận dữ thẳng tay day mặt mà nói rằng : " Anh là đồ chết yểu". Nói lời không rồi lại ngồi ủ rũ tương tư nơi Tiêu Tương Quán. Ngồi ngóng sang Di Hồng Viện mà trong lòng nàng lại trách bản thân. Nàng là Tiêu Tương Phi Tử, là người con gái không thuộc về bất cứ nơi đâu, bởi vậy nàng mãi mãi cũng không thuộc về Bảo Ngọc, càng không thuộc về chốn ô trọc như hai phủ Ninh Vinh.
Họ yêu nhau thật đấy, bên nhau thật đấy nhưng chưa bao giờ thực sự là của nhau, chưa nếm mùi mật ngọt đã phải trải qua vị đắng tình yêu. Họ muốn cùng nhau vượt qua hàng rào phong kiến nhưng hàng rào đó cao quá và cũng lắm chông gai . Tình duyên của họ không nằmtrong tay họ, mà trong tay trùng trùng lớp lớp những cạm bẫy và toan tính khác. Bảo Ngọc khùng khùng điên điên, Đại Ngọc thân thể bạc nhược, nhưng, những tưởng được là của nhau làm họ trở nên mạnh mẽ hơn, ý muốn ham sống bùng dậy. Sức mạnh của tình yêu không đợi thời gian và không gian, ở bất cứ đâu nó cũng có thể làm cho con người ta mạnh mẽ và can đảm hơn
Nhưng giây phút tưởng chừng hạnh phúc nhất lại là giây phút bi kịch ai oán nhất. Kế trộm long tráo phụng của Phượng Thư hoán cô em thành cô chị, để rồi khi Bảo Ngọc lật khăn che mặt của cô dâu trông thấy một Bảo Thoa tươi tắn đầy đà thì người ngọc đã đi xa mãi mãi. Uất giận, tủi hờn, Đại Ngọc ra đi trong tiếng kèn trống tưng bừng của ngày lễ thành thân Bảo Ngọc - Bảo Thoa. Cay đắng, xót xa, nàng không còn nước mắt để khóc. Nàng đốt khăn, đốt thơ, đốt cả mối tình sầu, đốt cả giấc mộng được làm uyên ương liền cánh. Hồng Lâu Mộng - Vỡ tan giấc mộng lâu hồng!!!!
Rồi, mai này ai sẽ nhớ nàng? " Cò giò bóng hạc bên ghềnh, hồn hoa chôn chặt dưới vành trăng trong" - Nàng là thân cò mình hạc xương mai trong gió, gió cuốn nàng đi rồi nhưng tình yêu của nàng, nỗi hận của nàng vẫn lẩn quất đâu đó ở quán Tiêu Tương. Hồn nàng là hồn hoa, đoá hoa phù dung bé nhỏ yếu đuối nhanh nở nhanh tàn, lặng lẽ im lìm dưới hồn trăng bóng nước...Nàng-- Lâm Đại Ngọc - người con gái được tạo ra bằng nước mắt, nay, lại tan đi và trở về đúng nguồn cội. Ở đâu đó trong không gian, có thể hương hồn nàng mãi mãi oán hận người đời, mãi mãi trách giận Bảo Ngọc, nhưng có lẽ tấm tình mà nàng đối với Bảo Ngọc sẽ là mối tình thác xuống tuyền đài chưa tan, ngàn năm đôi mắt nhoà lệ đó vẫn hướng về Bảo Ngọc, trong hờn dỗi và yêu thương, trong nụ cười và nước mắt...trong giấc mộng điệp vô tận của thời gian....
----------------------------------
Bộ phim kết thúc rồi, nhưng dư âm của nó thì còn đó...Tiếng nhạc ai oán, lầu son gác tía với ngục tù dơ bẩn, những xác người kéo lê trên tuyết trắng, hòn đá chênh vênh như sẵn sàng rơi xuống...tất cả chực vỡ oà như giấc mộng lâu hồng. Tự do luyến ái, tự do làm người - xã hội phong kiến không cho phép, trong cả đời thực cũng như trong cả giấc mơ. --- mãi mãi chỉ là mộng đẹp mà thôi.
“Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng, Độc tận thi thư diệc uổng nhiên!”
Đã đọc Hồng Lâu Mộng, đã xem Hồng Lâu Mộng và cũng đã khóc vì Hồng Lâu Mộng
Đã tương tư vì Hồng Lâu Mộng và cũng đã day dứt vì Hồng Lâu Mộng.
Hồng lâu mộng ..một giấc mộng dài và đẹp. Nó là tập hợp của muôn vàn những giấc mơ của con người trong xã hội phong kiến đầy mâu thuẫn, rối ren và mục nát. Cho dù họ là ai, là người nông dân chân đất quanh năm bán mặt cho đất ban lưng cho trời chỉ mong kiếm đủ nhà ba bồ thóc, là những thiếu gia tiểu thư con nhà quyền quý trong nhung trong lụa, là ả đào chót vương tình kíêm khách, là kẻ hầu người hạ trong xã hội, hay là vương phi quyền quý trên tận đỉnh cao…Trong Hồng Lâu Mộng, mọi người đều mơ đến một cái gì đó, rất thành thực mà cũng rất cao sang..nó tượng trưng cho những khát vọng sống và được sống, yêu và được yêu, rất người, rất bản năng ,nhưng để rồi cuối cùng, tận cùng của giấc mộng lâu hồng, và cũng là tận cùng của bi kịch, chợt ngỡ ngàng nhận ra rằng họ đang xây lâu đài ước mơ trên cát, để rồi chỉ cần một đợt sóng nhẹ nhàng vỗ bờ, cũng đủ sức cuốn trôi đi tất cả.
Già Lưu,bà già nhà quê mơ thằng cháu tên Bản mau lớn được đi làm mướn ở nhà họ Giả, Tích Xuân, cô tiểu thư bướng bỉnh cho mơ về cõi Phật mà coi người đời là dơ bẩn, Bảo Thoa - nàng mơ về tình yêu của Bảo Ngọc và cái chức mợ hai quyền quý, Hương Lăng- nàng mơ về ngày đoàn tụ với gia đình mà phải chết trong tủi hờn… Tương Vân - nàng mơ gì mà cuối cùng kiếp người bạc hạnh.. Tình Văn -nàng mơ gì mà cười trong tiếng xé quạt để rồi chết đi trong bạc bẽo đơn côi…Thám Xuân, nàng mơ gì để rồi cuối cùng bơ vơ nơi đất khách …Giả Bảo Ngọcvà Lâm Đại Ngọc..họ mơ gì trong giấc mộng lâu hồng đó để rồi âm dương cách biệt mãi mãi ôm nỗi hận thác xuống tuyền đài chưa tan?
Giấc mơ của họ cũng giản dị lắm,là ước mơ được đến bên nhau và được nói lời yêu, theo cách của riêng họ, theo lời nói của trái tim họ chứ không phải theo bất cứ lề lối nào khác của xã hội phong kiến khắt khe, độc đoán. Hai trái tim, hai tâm hồn ấy là tiêu biểu cho những thanh cao và bứt phá ra khỏi khuôn khổ của thời thế lúc bấy giờ. Họ,tuy chưa một lần thực sự được đến với nhau, nhưng, tình duyên của họ là tự nhiên, là định sẵn, là do số mệnh an bài và do cái tôi trong mỗi con người họ tạo nên.
Bảo Ngọc, cậu ấm ngậm ngọc sinh ra trong một gia đình vương giả bậc nhất kinh thành và theo một lẽ tự nhiên trở thành báu vật sống của trên trên dưới dưới của gia tộc họ Giả. Giả Bảo Ngọc- cái tên đó làm người người ngưỡng mộ..có khi người ta cất công đi cả trăm dặm đường chỉ để muốn được chiêm ngưỡng dung nhan của câu hai Bảo vốn từ nhỏ được trướng rủ màn che sống cùng nhi nữ. Sống cùng đám quần thoa , ngửi phấn thơm,ăn sáp đỏ,trong cậu hình thành nên một tư tưởng " phi phong kiến " : trọng nữ khinh nam. “Xương thịt con gái là nước kết thành. Tôi trông thấy con gái thì người tôi nhẹ nhàng, khoan khoái, thấy con trai thì như bị phải hơi dơ bấn”. Khi mà sách thánh hiền răn dạy đấng nam nhi tỏ mặt anh tài theo chốn quan trường giúp dân vì nước, thì Bảo Ngọc lại tâm niệm “quan văn chết vì lời can gián, quan võ chết vì đánh giặc" . Có cái gì đó bất cần và vô cùng phá cách trong lối hành động và suy nghĩ làm người của Bảo Ngọc...anh ta luôn muốn vươn lên để khẳng định một cái tôi rất riêng và mạnh mẽ của mình, muốn vượt qua những định chế khắc nghiệt,sáo rỗng và mô thức của xã hội đương thời. Nhưng bức tường phong kiến cao vời vời đã không ngần ngại chặn đứng những suy nghĩ mang tính chất đột phá đó. Làm ông vua nhỏ trong chăn ấm đệm êm, Bảo Ngọc trở nên cô độc với những suy nghĩ của chính mình. Và độc hành trên con đường đó, Bảo Ngọcgặp Đại Ngọc.
Lâm Đại Ngọc - cô gái xứ Tô Châu vì gia cảnh bất hạnh mà đến nương nhờ nhà bà ngoại. Xinh đẹp và thoát tục, tài hoa và phong nhã, đa sầu đa cảm với tâm hồn và thể chất mong manh yếu đuối. Nàng nghĩ nhiều, khóc nhiều và giày vò bản thân mình nhiều.Cũng bởi nàng xinh dẹp hơn người ta, nét đẹp u sầu đa đoan ( Đôi lông mày điểm màu khói lạt, dường như cau mà lại không cau; đôi con mắt chứa chan tình tứ, dáng như vui mà lại không vui. Má hơi lúm, có vẻ âu sầu; Người hơi mệt trông càng tha thướt. Lệ rớm rưng rưng, hơi ra nhè nhẹ. Vẻ thư nhàn, hoa rọi mặt hồ; dáng đi đứng, liễu nghiêng trước gió)
làm anh chàng Bảo Ngọc lần đầu gặp mặt đã điêu đứng tâm hồn đem cả miếng ngọc bản mệnh vứt đi vì : " ta có mà em không có". Cũng bởi nàng thông minh hơn người ta, và cũng cả nghĩ hơn người ta,bởi vậy trọn một kiếp người nàng mang danh bạc mệnh phấn hồng. Nhưng chung quy cũng tại nàng khổ hơn người ta, mang danh tiểu thư thật đấy, nhưng dù sao cũng là ăn nhờ ở đậu, là kiếp người tha hương không cha không mẹ, là cánh bèo dập dềnh trong biển nước, là chiếc lá xoay vẫn trong phong ba.Cô đơn và hiu quạnh trước sự phồn hoa đô hội, nàng là đoá phù dung mong manh trước gió, nàng là hạt sương mai vỡ oà khi nắng lên. Thương cảm cho số phạn của mình, nàng thương hoa, khóc hoa và chôn hoa.
" Chôn hoa ai bảo ngẩn ngơ
bao giờ ta chết ai là người chôn..."
Câu tự tình hay lắm và câu hỏi càng hay hơn. Khi nàng chết, ai là người bên nàng tiễn biệt? Khi nàng nhắm mắt xuối tay, ai là người vì nàng mà giỏ giọt nước mắt chân tình?
Bảo Ngọc và Đại Ngọc đến với nhau vì họ là hai tâm hồn đơn côi không nơi bấu víu. Cái ý nghĩ kì quặc của Bảo Ngọc lại tìm thấy sự ủng hộ và đồng tình nơi Đại Ngọc, và, Đại Ngọc, nàng tìm thấy sự đồng cảm nâng niu nơi Bảo Ngọc. Tuy rằng có những lúc Bảo Ngọc " gần cô chị ( Bảo Thoa) và quên khuấy cô em , nhưng đến cùng, anh chỉ yêu một mình Đại Ngọc mà thôi. Chưa bao giờ ngại ngần bày tỏ, tình ý của Bảo Ngọc với Đại Ngọc là thứ tình cảm trong sáng ngát hương xua đi cái bít bùng đầy âm mưu toan tính của bầy lang sói.
" Nếu tôi được cùng tiểu thư đa tình sum vầy phượng loan "
" Tôi là người nhiều sầu nhiều bệnh, nàng là trang nghiêng nước nghiêng thành'
Không chỉ một lần Bảo Ngọc mượn lời Dương Thuỵ tỏ tình với Thôi Oanh Oanh ( Tây Sương Kí) để nói tấm lòng mình, nhưng....Giá như cuộc sống đừngcó những chữ nhưng như vậy. Đại Ngọc là người nhiều tự ái, nàng tủi số kiếp " nữ nhân ngoại tộc " của mình mà năm lần bảy lượt từ chối,cũng không ít lần má hồng giận dữ thẳng tay day mặt mà nói rằng : " Anh là đồ chết yểu". Nói lời không rồi lại ngồi ủ rũ tương tư nơi Tiêu Tương Quán. Ngồi ngóng sang Di Hồng Viện mà trong lòng nàng lại trách bản thân. Nàng là Tiêu Tương Phi Tử, là người con gái không thuộc về bất cứ nơi đâu, bởi vậy nàng mãi mãi cũng không thuộc về Bảo Ngọc, càng không thuộc về chốn ô trọc như hai phủ Ninh Vinh.
Họ yêu nhau thật đấy, bên nhau thật đấy nhưng chưa bao giờ thực sự là của nhau, chưa nếm mùi mật ngọt đã phải trải qua vị đắng tình yêu. Họ muốn cùng nhau vượt qua hàng rào phong kiến nhưng hàng rào đó cao quá và cũng lắm chông gai . Tình duyên của họ không nằmtrong tay họ, mà trong tay trùng trùng lớp lớp những cạm bẫy và toan tính khác. Bảo Ngọc khùng khùng điên điên, Đại Ngọc thân thể bạc nhược, nhưng, những tưởng được là của nhau làm họ trở nên mạnh mẽ hơn, ý muốn ham sống bùng dậy. Sức mạnh của tình yêu không đợi thời gian và không gian, ở bất cứ đâu nó cũng có thể làm cho con người ta mạnh mẽ và can đảm hơn
Nhưng giây phút tưởng chừng hạnh phúc nhất lại là giây phút bi kịch ai oán nhất. Kế trộm long tráo phụng của Phượng Thư hoán cô em thành cô chị, để rồi khi Bảo Ngọc lật khăn che mặt của cô dâu trông thấy một Bảo Thoa tươi tắn đầy đà thì người ngọc đã đi xa mãi mãi. Uất giận, tủi hờn, Đại Ngọc ra đi trong tiếng kèn trống tưng bừng của ngày lễ thành thân Bảo Ngọc - Bảo Thoa. Cay đắng, xót xa, nàng không còn nước mắt để khóc. Nàng đốt khăn, đốt thơ, đốt cả mối tình sầu, đốt cả giấc mộng được làm uyên ương liền cánh. Hồng Lâu Mộng - Vỡ tan giấc mộng lâu hồng!!!!
Rồi, mai này ai sẽ nhớ nàng? " Cò giò bóng hạc bên ghềnh, hồn hoa chôn chặt dưới vành trăng trong" - Nàng là thân cò mình hạc xương mai trong gió, gió cuốn nàng đi rồi nhưng tình yêu của nàng, nỗi hận của nàng vẫn lẩn quất đâu đó ở quán Tiêu Tương. Hồn nàng là hồn hoa, đoá hoa phù dung bé nhỏ yếu đuối nhanh nở nhanh tàn, lặng lẽ im lìm dưới hồn trăng bóng nước...Nàng-- Lâm Đại Ngọc - người con gái được tạo ra bằng nước mắt, nay, lại tan đi và trở về đúng nguồn cội. Ở đâu đó trong không gian, có thể hương hồn nàng mãi mãi oán hận người đời, mãi mãi trách giận Bảo Ngọc, nhưng có lẽ tấm tình mà nàng đối với Bảo Ngọc sẽ là mối tình thác xuống tuyền đài chưa tan, ngàn năm đôi mắt nhoà lệ đó vẫn hướng về Bảo Ngọc, trong hờn dỗi và yêu thương, trong nụ cười và nước mắt...trong giấc mộng điệp vô tận của thời gian....
----------------------------------
Bộ phim kết thúc rồi, nhưng dư âm của nó thì còn đó...Tiếng nhạc ai oán, lầu son gác tía với ngục tù dơ bẩn, những xác người kéo lê trên tuyết trắng, hòn đá chênh vênh như sẵn sàng rơi xuống...tất cả chực vỡ oà như giấc mộng lâu hồng. Tự do luyến ái, tự do làm người - xã hội phong kiến không cho phép, trong cả đời thực cũng như trong cả giấc mơ. --- mãi mãi chỉ là mộng đẹp mà thôi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét